Lịch sử Hội An

Hội An là mảnh đất giàu truyền thống lịch sử cánh mạng và văn hóa, được kết tinh qua nhiều thời đại và từng nổi tiếng trên thương trường quốc tế với nhiều tên gọi khác nhau như Lâm Ấp, Faifo Hoài Phố, Hội An
Do có đặc điểm địa lý thuận lợi nên từ hơn 2000 năm trước, mảnh đất này đã tồn tại và phát triển nền văn hóa Sa Huỳnh muộn. Qua kết quả nghiên cứu khảo cổ học tại 4 di tích mộ táng (An Bang, Hậu Xá I, Hậu Xá II, Xuân Lâm) và 5 điểm cư trú (Hậu Xá I, Trảng Sỏi, Ðồng Nà, Thanh Chiắm, Bàu Ðà), với nhiều loại hình mộ chum đặc trưng, với những công cụ sản xuất, công cụ sinh hoạt, đồ trang sức tuyệt xảo bằng đá, gốm, thủy tinh, kim loại… được lấy lên từ lòng đất đã khẳng định sự phát triển rực rỡ của nền văn hóa Sa Huỳnh. Ðặc biệt sự phát hiện hai loại tiền đồng Trung Quốc thời Hán (Ngũ Thù, Vương Mãng), những hiện vật sắt kiểu Tây Hán, dáng dấp Ðông Sơn, Óc Eo, hoặc đồ trang sức với công nghệ chế tác tinh luyện trong các hố khai quật đã chứng minh một điều thú vị rằng, ngay từ đầu Công nguyên, đã có nền ngoại thương manh nha hình thành ở Hội An.
Dưới thời vương quốc Chăm Pa (Thế kỷ 9-10), với tên gọi Lâm ấp Phố, Hội An đã từng là cảng thị phát triển, thu hút nhiều thương thuyền Ả Rập, Ba Tư, Trung Quốc đến buôn bán, trao đổi vật phẩm. Nhiều thư tịch cổ ghi nhận đã có một thời gian khá dài, Chiêm cảng – Lâm ấp Phố đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo nên sự hưng thịnh của kinh thành Trà Kiệu và khu di tích đền tháp Mỹ Sơn. Với những phế tích móng tháp Chăm, giếng nước Chăm và những pho tượng Chăm (tượng vũ công Thiên tiên Gandhara, tượng nam thần tài lộc Kubera, tượng voi thần…) cùng những mảnh gốm sứ Trung Quốc, đại Việt, Trung Ðông thế kỷ 2-14 được lấy lên từ lòng đất càng làm sáng tỏ một giả thiết từng có một Lâm ấp Phố (thời Chăm Pa) trước Hội An (thời Ðại Việt), từng tồn tại một Chiêm cảng với sự phát triển phồn thịnh.
Cũng chính nhờ môi trường sông nước thuận lợi, cộng với nhiều yếu tố nội, ngoại sinh khác, từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19, đô thị – thương cảng Hội An lại được tái sinh và phát triển thịnh đạt. Do hấp lực của cảng thị này, cùng với “con đường tơ lụa”, “con đường gốm sứ” trên biển hình thành từ trước nên thương thuyền các mước Trung, Nhật, Ấn Độ, Xiêm, Bồ, Hà, Anh, Pháp… tấp nập đến đây giao thương mậu dịch.
Theo các nguồn sử liệu, lượng tàu thuyền vào ra bến cảng tấp nập đến nỗi cột buồm của chúng “như rừng tên xúm xít” (Thích Ðại Sán – Hải ngoại ký sự), còn hàng hóa thì “không thứ gì không có”, nhiều đến mức ” cả trăm chiếc tàu to chở cùng một lúc cũng không hết được” (Lê Quý Ðôn – Phủ biên tạp lục). Trong thời kỳ này, Hội An là đô thị-thương cảng quốc tế phát triển rực rỡ vào bậc nhất của cả nước và cả khu vực Ðông Nam Á, là cơ sở kinh tế trọng yếu của các chúa Nguyễn, vua Nguyễn ở Ðàng Trong.
Từ cuối thế kỷ 19, do chịu sự tác động của nhiều yếu tố bất lợi, “cảng thị thuyền buồm” Hội An suy thoái dần và mất hẳn, nhường vai trò lịch sử của mình cho ” cảng thị cơ khí trẻ”ớ Ðà Nẵng. Nhưng cũng nhờ đó, Hội An đã tránh khỏi được sự biến dạng của một thành thị trung – cận đại dưới tác động của đô thị hóa hiện đại để bảo tồn cho đến ngày nay một quần thể kiến trúc đô thị cổ hết sức độc đáo, tuyệt vời.
Trong suốt 117 năm kháng chiến chống ngoại xâm (1858 – 1975), hàng nghìn người dân Hội An đã ngã xuống cho độc lập và thống nhất đất nước. Nhiều địa phương và một số người trong số họ đã được phong tặng danh hiệu “Anh hùng”
Vào ngày 22/8/1998, Hội An được nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân”. Hơn một năm sau, ngày 4 tháng 12 năm 1999, Tổ chức Văn hóa – Khoa học – Giáo dục Liên hiệp quốc UNESCO đã ghi tên Hội An vào danh mục các di sản Văn hóa thế giới và vào ngày 24/8/2000 Hội An một lần nữa được nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng Lao động” trong thời kỳ đổi mới.

Cù lao Chàm

Cù lao Chàm thuộc xã đảo Tân Hiệp, thị xã Hội An (Quảng Nam) - một di tích văn hoá lịch sử gắn với sự hình thành và phát triển của đô thị thương cảng Hội An hàng nghìn năm trước.



Giữa vùng đảo yên bình đầy nắng gió, cảnh đẹp, bãi tắm lý tưởng, hải sản tươi ngon...du khách được tắm mình trong không khí hội hè, vui chơi thoả thích. 3.000 dân tập trung ở bãi Làng, bãi Hương kể cả lực lượng bộ đội đóng quân trên đảo luôn thân thiện, mến khách, sẵn sàng trải lòng mình với du khách bốn phương đặc biệt là các sinh hoạt cộng đồng giữa bao sóng biển rì rào suốt ngày, giữa gió và nắng chan hoà.


Chỉ chưa đầy 30 phút, tàu cao tốc hiện đại (của Cty Đầu tư và Phát triển Cù lao Chàm và của Công ty Du lịch Dịch vụ Hội An) sẽ đưa khách ra đến đảo chỉ với 120.000đồng/người/chuyến khứ hồi.
Cù lao Chàm hiện có 135 loài san hô trong đó có 6 loài lần đầu tiên ghi nhận ở vùng biển VN, 500 thảm rong và cỏ biển, 202 loài cá, 4 loài tôm hùm và 84 loài nhuyễn thể.



Nơi đây có địa hình đồi núi và thảm thực vật đã được tái tạo xanh tốt, nhiều loài quý hiếm. Các bãi biển cát vàng sạch mịn với những khối đá làm nên nhiều cảnh quan độc đáo. Phía đông của đảo sườn núi dốc đứng, bên dưới sóng biển mạnh mẽ tạo nên cảnh quan hùng vĩ.


Nơi đây còn là nơi tụ cư của chim yến, tổ của chúng gọi là Yến sào là một món ăn quý, bổ dưỡng chỉ dành cho vua chúa (ngày xưa) và các nhà hàng sang trọng (ngày nay). Lúc biển lặng sóng yên, du khách được đưa đến tham quan các đảo như hang Tò Vò, hang Khô - nơi yến làm tổ trên vách đá cheo leo.


Hiện có nhiều tour tham quan phục vụ khách chủ đề "Khám phá Cù lao". Nên chọn tham quan phòng trưng bày "Văn hoá thiên nhiên, con người Cù lao Chàm - Báu vật từ đáy biển". Ở đây, chúng ta chiêm ngưỡng những sản phẩm gốm sứ cổ Chu Đậu và nhiều vùng khác mà các nhà khoa học đã tìm thấy trên con tàu đắm ở vùng biển này vài trăm năm trước.


Khách cũng có thể chọn Tham quan chùa Hải Tạng - ngôi chùa tồn tại đã gần 300 năm trên đảo, tham quan giếng cổ, Lăng Ông hay tour lặn san hô (lặn nông), xem cá nhiều màu sắc ở bãi Bấc, Hòn Dài; hay tham gia tour vượt biển tham quan làng chài bãi Hương. Những ai thích cảm giác mạnh có thể chọn tour lặn biển (có và không có bình hơi) do Trung tâm lặn biển thuộc Hội An Beach Rersort phục vụ.
Nếu không theo các tour, khách có thể xuống tắm biển ở bãi Ông hoặc bãi Chồng. Tất cả đều còn khá hoang sơ, thú vị. Các bạn trẻ thì đến khu vực Âu thuyền để xem hoặc trực tiếp tham gia cuộc đua tài trong trò chơi "Ngư dân với biển cả". Một trò chơi không khác mấy với trò chơi truyền hình "Sóng nước phương Nam" nhưng được cải tiến phù hợp hoàn toàn với cư dân vùng biển.


Cũng trong dịp này, du khách có thể chọn các loại hình thể thao biển như lướt ván, dù bay, chèo thuyền kayak, thả diều, đua thuyền...Và điều thú vị là, sau thời gian làm việc căng thẳng, stress luôn tiềm ẩn đe doạ thì đến với đảo để sống với thiên nhiên, thưởng thức các món đặc sản tươi rói vừa đánh bắt lên từ biển giá cả phải chăng...

Khu du lịch Bà Nà

Bà Nà - Núi Chúa là một dãy núi thuộc huyện Hòa Vang cách Đà Nẵng 40 km về phía Tây Nam, cao 1.487 m so với mực nước biển. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 17 dến 20oC.
Ở Bà Nà, du khách sẽ cảm nhận được bốn mùa riêng biệt trong một ngày: sáng - xuân, trưa - hạ, chiều - thu, tối - đông và khác với Đà Lạt là không bị ẩm ướt vì các cơn mưa nhỏ. Đặc biệt khi cơn mưa xuất hiện, chúng ta được xem mưa rơi xung quanh sườn núi mà phần đỉnh vẫn luôn khô ráo, vẫn trời mây quang tạnh, không khí thoáng đãng mát mẽ. So với Tam Đảo, Đà Lạt, Bà Nà có ưu thế hơn về tầm nhìn toàn cảnh. Từ trên những mỏm núi, du khách có thể bao quát cả một không gian mênh mông: biển cả, thành phố Đà Nẵng, những cánh đồng lúa xanh tận chân trời...
Trong khi nhiệt độ từ tháng 5 đến tháng 8 là những tháng nóng nhất ở ven biển miền Trung thường lên tới 32oC thì ở đây chỉ có 17oC đến 20oC, cao nhất từ 22oC - 25oC. Còn ban đêm xuống tới 15oC, tương đương với nhiệt độ trung bình về mùa đông ở miền Bắc. Khí hậu ôn hòa suối chảy róc rách, rừng cây xào xạc làm cho nơi đây có thể sánh với những vùng nghỉ mát như Tam Đảo, Đà Lạt... Bà Nà còn có giá trị là khu bảo tồn thiên nhiên với 544 loài thực vật bậc cao, 256 loài động vật, trong đó có 6 loài cây và 44 loài động vật quí hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam theo tiêu chuẩn quốc tế.
Lên Bà Nà, du khách sẽ cảm nhận được cái cảm giác như đi lạc trong mây và sương khói. Cảm xúc của mỗi người khi lên nơi này có thế có khác nhau tùy thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng cái ý nghĩ rằng, giữa vùng nhiệt đới gió mùa này mà chọn một nơi như Bà Nà làm nơi nghỉ dưỡng thì khó có nơi nào bằng sẽ luôn là một ý nghĩ chung...
Với những ưu thế tuyệt diệu đó, từ những năm đầu thế kỉ XX người Pháp đã chọn Bà Nà là nơi nghỉ mát và xây dựng nơi đây hàng trăm biệt thự, lâu đài... Thiên tai, địch họa hơn nửa thế kỉ qua đã làm mất đi dấu tích các lâu đài, nhà nghỉ cổ xưa... nhưng vẫn còn đó sự hào phóng của thiên nhiên với những cánh rừng nguyên sinh và một vùng khí hậu ôn hòa mát mẻ với muôn ngàn âm thanh xào xạc của đồi thông hòa quyện cùng khúc nhạc róc rách của những con suối tràn lên trên thành đá hoa cương, rồi lặng lẽ lẫn khuất sau những cánh rừng xanh ngắt.
Hiện nay, một số biệt thự tại khu du lịch Bà Nà đã được trùng tu lại với đầy đủ các tiện nghi và dịch vụ hiện đại sẵn sàng phục vụ du khách. Nhiều khu biệt thự của Nhà nước cũng như của tư nhân đã được xây dựng tại đây, đủ sức đáp ứng được nhu cầu tham quan, nghỉ mát của du lkhách. Đặc biệt, hệ thống cáp treo hiện đại sẽ đưa quý khách từ đồi Vọng Nguyệt, ẩn hiện trong mây và băng qua khu rừng nguyên sinh bên dưới để đến trung tâm khu du lịch Bà Nà.

Bà Nà - nơi hội tụ vẻ mông lung, lãng mạn của tạo vật, chút cảm hoài gạch ngói rêu phong của thời gian và sự tham dự có ý thức của con người vào cái đẹp. Từ trên đỉnh Bà Nà nhìn về Đà Nẵng, con người như cảm thấy mình có được một cuộc sống khác, tận hưởng được những hạnh phúc khác... những thứ mà cuộc sống náo nhiệt thị thành không bao giờ biết được.
Dưới chân núi Bà Nà, Suối Mơ là điểm du lịch rất đông khách, nhất là vào mùa hè. Ở đây có thác Tóc Tiên 9 tầng, thác này gọi là thác Tóc Tiên bởi vì đứng từ phía dưới chân thác nhìn lên thác như một mái tóc của một nàng tiên. Phong cảnh kết hợp giữa núi rừng bao la với những dòng nước trắng xóa, mát mẻ giúp cho chúng ta quên ngay đi những mệt mỏi của đời thường để tận hưởng những giây phút thư giãn thần tiên.

Đền Ngọc Sơn

Ở thế kỷ 21, có một Hà Nội đang thay da đổi thịt từng ngày. Náo nhiệt, nhộn nhịp và phát triển. Và cũng có một Hà Nội vẫn cần mẫn bảo tồn những tinh hoa văn hóa của dân tộc. Đấy là quần thể di tích “Đền Ngọc Sơn - cầu Thê Húc - tháp Bút - đài Nghiên”, một biểu tượng văn hóa của Hà Nội xưa.

Đã mấy trăm năm, người Hà Nội vẫn tự nhắn nhủ nhau và nhắn nhủ với du khách bốn phương về tụ hội trên mảnh đất kinh kỳ:

"Rủ nhau xem cảnh Kiếm hồ
Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn
Đài Nghiên, tháp Bút chưa mòn
Hỏi ai gây dựng nên non nước này"


Cầu Thê Húc, chùa Ngọc Sơn vẫn còn đây. Dịu dàng và đằm thắm giữa mênh mông sóng nước xanh như mực của hồ Gươm. Đài Nghiên, tháp Bút đứng sừng sững, uy nghiêm, tựa ngàn ngọn bút lông tua tủa viết lên trời xanh.

Gần một ngàn năm trước, những quần thể di tích này còn nằm trên một cồn cát hoang sơ của khúc sông Nhị Hà (sông Hồng). Sang đời Trần, trên cồn cát ấy có ngôi đền thờ các anh hùng liệt sĩ đã hi sinh trong cuộc chiến chống giặc Nguyên - Mông. Nhưng trải qua biến cố binh lửa, đền bị đổ nát. Mãi đến thời chúa Trịnh Giang, đã dựng cung Khánh Thụy trên đảo Ngọc làm nơi vui chơi, tiêu khiển. Năm 1786, cung Khánh Thụy bị Lê Chiêu Thống đốt. Những kẻ sĩ đất Bắc lại tìm về nền đất bị tàn phá, gây dựng lên những lâu đài văn hóa.

Sử sách chép lại: một tư nhân là Tín Trai đã dựng ngôi đền nhỏ trên nền cung Khánh Thụy, đền thờ Quan đế thánh nhân (tức Quan Công đời Hán), sau thêm ban thờ Trần Hưng Đạo (vị tổng chỉ huy trong cuộc chiến chống giặc Nguyên - Mông). Năm 1842, đền có thêm ban thờ Văn Xương đế quân, vị thần chủ trì văn học, sau còn thêm ban thờ tượng Lã Tể (Lã Đồng Tâm), vị tiên có tài tìm thuốc chữa bệnh. Năm 1843, đền mới chính thức có tên gọi là Ngọc Sơn.

Về kiến trúc, đền Ngọc Sơn là một dãy nhà hình chữ Tam gồm tòa tiền bái, tòa chính điện và hậu
cung. Tòa tiền bái thờ Quan Công, tòa chính điện thờ Văn Xương đế quân và tòa hậu cung thờ Trần Hưng Đạo. Ngoài ra trong đền còn thờ Phật A Di Đà. Điều này đã thể hiện rõ quan niệm tam giáo đồng nguyên của người Việt xưa.

Đúng 22 năm sau, phương đình Nguyễn Văn Siêu đã đứng ra vận động xây dựng và tu bổ đền Ngọc Sơn thành một biểu tượng văn hóa của kẻ sĩ Bắc Hà với một công trình liên hoàn gồm “đền Ngọc Sơn - cầu Thê Húc - tháp Bút - đài Nghiên”.

Nguyễn Văn Siêu, nhà tri thức lỗi lạc của đất Thăng Long xưa, đã “múa bút” viết nên những hoành phi câu đối tuyệt mỹ cho những lâu đài văn hóa đương thời. Này đây là tháp Bút với ba chữ “Tả Thiên Thanh” (Viết lên trời xanh) tỏ rõ khí phách của kẻ sĩ Bắc Hà. Rằng kiếp sĩ phu đâu phải chỉ gác bút nghiên đi ở ẩn, mà họ đang xông pha ngòi bút để chăm lo dân, trị nước, hòa nhập với vũ trụ, với những đổi thay tiến bộ của hoàn cầu.

Này đây là đài Nghiên với đôi câu đối viết lên ước nguyện đầy ắp về chốn văn chương trí tuệ của đời người:

"Nước hồ đầy bóng nghiên vượt đảo
Núi đá cao thế bút chống trời".


Ngày nay, tâm niệm của Nguyễn Văn Siêu về cây cầu Thê Húc “hội tụ ánh sáng đẹp của mặt trời” vẫn còn nguyên giá trị. Sử tích ghi lại cầu được xây dựng năm 1865, gồm 15 nhịp, 32 chân cột tròn xếp thành 16 đôi. Trên cầu lát ván gỗ và sơn màu đỏ sẫm, chữ màu vàng. Cầu Thê Húc dẫn đến cổng đền Ngọc Sơn, còn gọi là Đắc Nguyệt lâu (lầu được trăng) nằm ẩn núp dưới bóng cây đa cổ thụ.
Đắc Nguyệt lâu là một gác chuông hai tầng, kiến trúc tựa như Khuê Văn Các ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Lầu có đắp hình long mã và rùa thần đội đồ thư và gươm báu hai bên, kèm đôi câu đối tượng trưng cho tấm lòng thanh bạch của sĩ phu Bắc Hà: “Cầu gỗ như chiếc cầu vồng đưa lên hồ đảo. Lầu cao soi trăng sáng nằm giữa lòng hồ”.

Phía Nam đền Ngọc Sơn là trấn Ba Đình (đình chắn sóng). Xét ngụ ý sâu sa, tên gọi ấy mang nghĩa là chắn những làn sóng văn hóa độc hại xô bồ. Bia đền Ngọc Sơn viết: “Đền thờ mới đã hoàn thành, phía trước là đình Trấn Ba ngụ ý là trụ cột đứng vững giữa làn sóng văn hóa”. Trấn Ba Đình hình vuông, được xây dựng theo lối kiến trúc hai tầng, có 8 cột chống đỡ, bốn cột ngoài bằng đá, bốn cột trong bằng gỗ. Cột trong đình còn có đôi câu đối ngụ ý vừa ca tụng vừa răn dạy người đời:

"Kiếm hữu dư linh quang nhược thủy
Văn tòng đại khối thọ như sơn".

Nghĩa là:

"Gươm có khí thiêng sáng màu nước
Văn theo trời đất thọ như non".

Ngày lại ngày, nhịp sống phố phường Hà Nội lại quay tít mù cùng bánh xe thời gian. Bận rộn và mệt mỏi. Nhưng dòng người đổ về quần thể di tích “đền Ngọc Sơn - cầu Thê Húc - tháp Bút - đài Nghiên” vẫn chẳng có gì thay đổi. Đông đúc, nhộn nhịp như tụ hội.

Có người đến đây chỉ để vui chơi giải sầu, có người hòa mình vào không gian trầm mặc hương khói để tĩnh tâm, thư thái… Và tôi đến đây chỉ để thỏa mãn một điều là hiểu được tấc lòng thanh bạch, đầy khí phách của "kẻ sĩ Bắc Hà" xưa.

Phủ Tây Hồ

Phủ Tây Hồ và đền Kim Ngưu thuộc thôn Tây Hồ, nay là phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội. Phủ Tây Hồ cách trung tâm Thủ đô khoảng 4km về phía Tây.

Phủ nằm trên bán đảo lớn của làng Nghi Tàm, nhô ra giữa Hồ Tây. Phủ thờ Bà chúa Liễu Hạnh - một trong những đại diện đạo Mẫu ở Việt Nam là một trong tứ bất tử của Việt (Sơn Tinh, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử, Liễu Hạnh).

Tục truyền rằng: bà là Quỳnh Hoa -con gái thứ hai của Ngọc Hoàng, bị đày xuống trần gian vì tội làm vỡ cái ly ngọc quý. Xuống hạ giới, nàng chu du, khám phá khắp mọi miền, qua đảo Tây Hồ dừng lại, phát hiện ra đây là nơi địa linh sơn thủy hữu tình, bèn lưu lại mở quán nước làm cớ vui thú văn chương giữa thiên nhiên huyền diệu.

Như tiền duyên xui khiến, Trạng nguyên Phùng Khắc Khoan trong lần đi thuyền dạo chơi trên hồ, thấy cảnh đẹp, bèn ghé vào quán Tiên chúa. Tâm đầu ý hợp, họ cùng vịnh bài thơ “Tây Hồ ngự quán” mà nay vẫn còn lưu truyền mãi. Tiên chúa ở đây trong bao lâu không ai biết, chỉ biết khi Phùng Khắc Khoan trở lại tìm thì không còn. Để nguôi ngoai nỗi nhớ, ông cho lập đền thờ người tri âm. Cái xuất xứ ly kỳ của phủ Tây Hồ là thế.

Ngày nay, men theo con đường rợp bóng cây cuối khu biệt thự Tây Hồ ở thủ đô Hà Nội, giữa bát ngát hương sen và cảnh đất trời hòa quyện trong ánh nắng chiều tà, đảo nhỏ được người xưa ví là “bãi đất cá vàng” nhô ra giữa mặt nước lung linh, đúng là cái thế “đầu rồng, thân rồng, rùa cõng” khiến khách vãn cảnh cảm thấy âm dương đối đãi, tâm hồn mình thư thái lạ.

Tam quan vào cổng Phủ Tây Hồ đắp đao lửa, mái làm giả ngói ống, dưới diềm khắc 4 chữ Hán “Phong đài nguyên các” (Đài gió gác trăng), câu đối hai bên trụ nói về sự tích Phùng Khắc Khoan gặp Liễu Hạnh.

Phủ chính có quy mô kiến trúc lớn, mặt trước Phủ có cửa tam quan 2 tầng, mái giữa có ghi “Tây Hồ hiển tích” (Dấu để Tây Hồ), được trang trí tỉ mỉ, công phu.

Bốn cánh cửa giữa phần trên chạm tứ quý, phần dưới chạm tứ linh, giữa chạm đào thọ. Qua tam quan vào là phương đình 2 tầng, 8 mái. Nhà tiền tế xây sát sau phương đình.

Phần thờ tự theo thứ tự từ ngoài vào: lớp thứ nhất thờ Tam phủ công đồng, Tứ phủ vạn linh và Hội đồng các quan, có tượng ông Hoàng Bảy, Hoàng Mười, 3 đôi câu đối ca ngợi chúa Liễu Hạnh.

Lớp thứ hai, thờ Ngọc Hoàng và Nam Tào, Bắc Đẩu, có câu đối ca ngợi thắng cảnh Tây Hồ. Lớp thứ ba thờ Tam Tòa Thánh Mẫu có cửa võng đề “Tây Hồ phong nguyệt” và đôi câu đối ca ngợi bà Liễu Hạnh. Trên nóc mái giáp cửa hậu treo đại tự “Mẫu nghi thiên hạ”, hai bên có câu đối bằng gỗ.

Lớp trên cùng hậu cung là nơi đặt tượng của bà Liễu Hạnh và tượng Chầu Quỳnh, Chầu Quế. Trên cao là bức đại tự “Thiên tiên trắc giáng” và “Mẫu nghi thiên hạ”.

Sát Phủ chính là lầu Sơn Trang 3 tầng, 8 mái cong, lòng nhà có 2 tầng, tầng trên thờ Quan Âm, tầng dưới là 3 động Sơn Trang chiếm 3 gian. Phía ngoài Phủ chính xây 2 am thờ nhỏ thờ Cô và Cậu. Phía trước lầu có tháp nhỏ, dưới gốc si là tấm bia Từ chỉ của xã Vĩnh Thuận dựng năm Thiệu Trị 5 (1845).

Di vật trong Phủ còn khá phong phú với nhiều câu đối, cửa võng, long ngai, bài vị, sập thờ. Cửa cuốn, cửa võng được chạm khắc đẹp, mang nét nghệ thuật thế kỷ XIX .

Ngoài ra còn có các loại tàn, tán, lọng, 3 quả chuông đồng, 1 bát hương đồng ghi “Đông Cung Điêu”, bát hương đá, 10 đạo sắc phong (3 đạo phong chúa cho Liễu Hạnh, 7 đạo phong cho thần Kim Ngưu), 50 pho tượng tròn lớn nhỏ.

Đây là di tích trong quần thể di tích ven Hồ Tây, một thắng cảnh đẹp của Thủ đô. Phủ Tây Hồ được công nhận là di tích lich sử - văn hóa năm 1996.

Đền Kim Ngưu đã bị đổ trong chiến tranh chống Pháp, nhưng vẫn còn dấu tích là cây đa cổ thụ trên đó có bàn thờ mà dân làng Tây Hồ dựng lên để thờ vị thần Kim Ngưu (Trâu Vàng).

Theo truyền thuyết, tiếng chuông làm bằng đồng đen của nhà sư Nguyễn Minh Không đời Lý đã làm cho con trâu vàng bị giam giữ ở Trung Quốc tưởng là tiếng trâu mẹ gọi, lồng về phía Việt Nam. Đường trâu vàng chạy lún thành sông Kim Ngưu. Đến phía tây Kinh thành thì tiếng chuông tắt, trâu đã lồng và xéo nát một vùng thành hồ Kim Ngưu, tức Hồ Tây ngày nay.

Đền Kim Ngưu có Tam quan, phủ chính, điện thờ Mẫu, sân trong và nhà khách.

Chùa Một Cột

Chùa Một Cột nằm trong quần thể chùa Diên Hựu (kéo dài tuổi thọ). Chùa nằm trên đất thôn Thanh Bảo, huyện Quảng Đức, phía Tây hoàng thành Thǎng Long thời Lý, nay thuộc phố chùa Một Cột, quận Ba Đình - Hà Nội, ở bên phải Lǎng Chủ Tịch Hồ Chí Minh.

Theo Đại Việt ký sự toàn thư, chùa được xây dựng vào nǎm Kỷ Sửu, niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo 1 (1409) đời Lý Thái Tông. Vua Lý Thái Tông (1028-1054) chiêm bao thấy Phật Quan Âm trên toà sen đưa tay dắt vua lên toà. Khi tỉnh dậy, vua kể lại cho các quan nghe, có người cho là điềm không lành. Sư Thiên Tuế khuyên nhà vua làm chùa, dựng cột đá ở giữa hồ, làm toà sen của Phật Quan Âm như đã thấy trong mộng. Chùa xây xong, đài sen nghìn cánh đỡ toà Phật sắc hồng, trong đặt tượng Phật vàng lấp lánh. Các nhà sư đến làm lễ, đi vòng quanh chùa niệm Phật cầu phúc cho vua sống lâu, vì thế đặt tên là chùa Diên Hựu.

Theo vǎn bia dựng nǎm Cảnh Trị 3 do hoà thượng Lê Tất Đạt ghi, chùa được dựng từ thời thuộc Đường: "Nǎm đầu niên hiệu Hàm Thông thời Đường..., dựng một cột đá ở giữa hồ, trên cột xây một toà lầu ngọc trong đó đặt tượng Phật Quan Âm để thờ cúng. Khí đất chung đúc anh linh, cầu gì được nấy. Đến khi triều Lý xây dựng kinh đô ở đây, cũng noi theo dấu cũ, nên càng linh thiêng. Khi Lý Thánh Tông chưa có Hoàng tử, thường đến đó cầu nguyện. Một đêm nằm mộng thấy Phật Quan Âm mời lên lầu ngồi, ôm một đứa bé đặt vào lòng vua. Tháng đó Hoàng hậu có mang hoàng tử. Vua bèn sửa thêm ngôi chùa Diên Hựu ở bên phải chùa Một Cột để mở rộng việc thờ cúng..."

Đời Lý Nhân Tông, nǎm Anh Vũ Chiêu Thánh 5 (1080) vua cho đúc chuông lớn để treo ở chùa gọi là "Giác Thế chung" (chuông thức tỉnh người đời) và một toà phương đình bằng đá xanh cao 8 trượng, nhưng vì chuông quá nặng không sao treo lên được, phải để dưới đất nên đánh không kêu. Chỗ ruộng để chuông thấp, có nhiều rùa đến ở, được gọi là ruộng Quy Điền và quả chuông cũng được gọi là chuông Quy Điền. Khi quân Minh bị bao vây ở Đông Quan, hết quân khí, Vương Thông đã cho phá quả chuông này để đúc súng đạn.

Quy mô chùa Một Cột vào thế kỷ 12 to lớn lộng lẫy hơn như hiện nay rất nhiều. Vǎn bia Tháp sùng Thiện Diên Linh chùa Long Đọi (Nam Hà) dựng nǎm 1121, mười sáu nǎm sau khi chùa mới hoàn thành, cung cấp cho ta hình ảnh chân thực nhất về một ngôi chùa Một Cột thời Lý: "Lòng sùng kính đức Phật, dốc lòng mộ đạo nhân quả, hướng về vườn Tây Cấm nổi danh, xây ngôi chùa Diên Hựu. Theo dấu vết chùa cũ cùng với ý mới của nhà vua ( Lý Nhân Tông): Đào hồ thơm Linh Chiểu, giữa hồ vọt lên một cột đá, đỉnh cột nở đoá sen nghìn cánh, trên sen đứng vững toà điện màu xanh, trên điện đặt pho tượng vàng nhân đức, vòng quanh hồ là hai dãy hành lang; lại đào ao Bích Trì mỗi bên đều mắc cầu vồng để đi qua. Phía sân cầu hai đằng trước hai bên tả hữu, xây bảo tháp Lưu Ly."

"Hằng tháng vào sớm ngày mồng một (ngày sóc), hàng nǎm vào dịp du xuân, nhà vua ngồi xe ngọc, đến chùa mở tiệc chay, làm lễ dâng hương hoa, cầu cho ngôi báu lâu dài, bày chậu thau làm lễ tắm tượng Phật. Trang sức pho tượng tinh tế, biểu đồ tướng mạo của nǎm loại chúng sinh..."

Qua vǎn bia miêu tả, rõ ràng Liên Hoa Đài thời Lý to hơn chùa ngày nay nhiều. Chùa thời Trần cũng không phải là ngôi chùa thời Lý nữa. Như sách Toàn thư đã ghi lại, nǎm 1249 "mùa xuân, tháng giêng, sửa lại chùa Diên Hựu, xuống chiếu vẫn làm ở nền cũ". Chùa đã qua nhiều đợt tu sửa. Đợt sửa chữa lớn vào nǎm Thiên ứng Chính Bình 18 (1249) gần như phải làm lại toàn bộ. Thời Lê, triều đình nhiều lần cho tu sửa, thu nhỏ kích thước đài sen và cột đá. Nǎm 1838, tổng đốc Hà Ninh Đặng Vǎn Hoà tổ chức quyên góp thập phương sửa chữa điện đường, hành lang tả hữu, gác chuông và cửa tam quan. Nǎm 1852, bố chính Tôn Thất Giao xin đúc chuông mới. Nǎm 1864, tổng đốc Tôn Thất Hàm hưng công trùng tu, làm sàn gỗ hình bát giác để đỡ toà sen, chạm trổ thêm công phu tráng lệ. Nǎm 1954, trước khi rút khỏi Hà Nội, quân Pháp đã đặt mìn phá đổ chùa. Sau ngày tiếp quản thủ đô, Bộ Vǎn Hoá đã cho tu sửa chùa Một Cột theo đúng kiểu mẫu cũ để lại từ thời Nguyễn.

Toà đài sen (Liên Hoa Đài), ta quen gọi là chùa Một Cột có hình vuông mỗi chiều 3m, mái cong dựng trên cột đá hình trụ cao 4m (chưa kể phần chìm dưới đất) có đường kính là 1,2m. Trụ đá gồm 2 khối, gắn rất khéo, thoạt nhìn như một khối đá liền. Sự độc đáo của kiến trúc chùa Một Cột là toàn bộ ngôi chùa được đặt trên một cột đá. ở đây có sự kết hợp táo bạo của trí tưởng tượng lãng mạn đầy thi vị qua hình tượng hoa sen và những giải pháp hoàn hảo về kết cấu kiến trúc gỗ bằng hệ thống móng giằng; đặc biệt là sử dụng các cột chống chéo lớn từ cột đến sàn, vừa tạo thế vững chắc, vừa mang lại hiệu quả thẩm mỹ như đường lượn của cánh sen, thiếp lập sự hài hoà giữa mái và sàn bởi một đối xứng ảo. Cùng với ao hình vuông phía dưới có thể là biểu tượng cho đất (trời tròn, đất vuông), ngôi chùa như vươn lên cái ý niệm cao cả: Lòng nhân ái soi tỏ thế gian. Khối kiến trúc gỗ đá được phù trợ bởi cảnh quan, có ao, có cây cối đã tạo nên sự gần gũi, tinh khiết mà vẫn thanh lịch. Cảm giác thanh cao của kiến trúc như chia xẻ, hoà đồng với trời nước, và màu xanh của cây lá khiến con người rũ sạch ưu phiền, đạt tới sự trong sáng của tâm hồn như nhà sư Huyền Trang (1254-1334) dưới thời Trần đã viết:


Vạn duyên bất nhiễu thành giã tục
Bán điểm vô ưu nhãn phóng khoan.


Chùa Một Cột đã được Bộ Vǎn Hoá xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật ngày 28-4-1962.

Làng cổ Đường Lâm

Nằm cách Hà Nội khoảng 50 km về phía Tây, Đường Lâm (thị xã Sơn Tây) với kiến trúc đường làng đặc trưng hình xương cá cùng những vòm cổng, những bức tường đá ong già nua, vàng khé lên trong các buổi chiều vừa trở thành di tích quốc gia - làng cổ duy nhất trong cả nước.

Người dân quanh vùng quen gọi làng mình là "Làng Việt cổ đá ong" cũng bởi đặc trưng này. Khuôn cổng cổ kính đã có từ mấy trăm năm, cây đa cổ thụ và bến nước đậm chất Bắc Bộ... Đá ong tham gia vào việc xây dựng nên từng nếp nhà, thành giếng cho đến đường làng, ngõ xóm. Đá ong hiện diện khắp nơi với một quy mô hoành tráng và rộng lớn, với nghệ thuật kiến trúc thô mộc mà tinh xảo.

Đình làng Mông Phụ đã có cách đây gần 380 năm, mang đậm dấu ấn của lối kiến trúc Việt- Mường: đình có sàn gỗ cách mặt đất, mô phỏng kiểu kiến trúc của nhà sàn. Sân đình đào thấp hơn so với mặt bằng xung quanh như một dụng ý để khi mưa xuống nước từ ba phía ào ạt đổ vào, như ẩn ý một mong ước "nước chảy chỗ trũng" , đời sống ấm no sung túc. Trước cửa đình là khoảng sân rộng, nơi biểu diễn các trò khi làng vào đám. Khoảng sân rộng mênh mang ấy giống như một cái "ngã sáu" khổng lồ, giống như một bông hoa xoè 6 cánh, quy tụ sáu con đường chính trong làng về trung tâm. Sự kỳ diệu về địa thế và kiến trúc đó khiến cho người làng có thể từ đình đi đến bất cứ xóm nào trong làng mà không ai trực tiếp quay lưng lại với hướng đình.

Làng cổ vẫn còn rất đẹp và yên vắng. Chỉ có dăm cụ già chống gậy đi lại hỏi thăm nhau, vài người chị đẩy những chiếc xe chất đầy mạ xanh non. Đến thăm làng cổ, một mình nghe tiếng bước chân mình rộn lên trong từng ngõ nhỏ, hay chạm tay vào lớp đá xù xì mát rượi của chiếc cổng làng duy nhất còn sót lại, đọc mấy chữ đại chữ đại tự "Thế hữu hưng ngơi đại" (Thời nào cũng có người tài giỏi), hẳn là ai cũng sẽ cảm thấy hình như có một điều kỳ diệu nào đó vẫn còn tiềm ẩn dưới lớp đá dày trầm mặc tích tụ từ bao đời.

Tới Đường Lâm, thả mình vào bầu không khí trầm mặc nơi đây con người ta thấy mình như được về lại cuội nguồn dân tộc. Bới vậy mà những lo âu muộn phiền của cuộc sống theo đó sẽ tan biến.